Lịch sử không cần những bản án vĩnh viễn

Góc nhìn cá nhân về cách đọc Nguyễn Ánh – Gia Long, Quang Trung và Lê Văn Duyệt

Tóm tắt

Tôi không nghĩ nhiệm vụ của người đọc lịch sử hôm nay là chọn một nhân vật để tôn lên rồi tìm một người khác để kết tội. Điều khó hơn, và cũng đáng làm hơn, là giữ được hai việc cùng một lúc: không né tránh những lựa chọn sai lầm của người xưa, nhưng cũng không để một sai lầm xóa sạch mọi phần còn lại trong cuộc đời họ.

Với Nguyễn Ánh, việc cầu viện Xiêm, chủ trương tiếp tế quân Thanh và những nhượng bộ rất sâu trong Hiệp ước Versailles năm 1787 đều là những dữ kiện không nên làm nhẹ. Nhưng việc viện trợ cấp nhà nước của Pháp theo hiệp ước không được thực thi cũng là dữ kiện; vai trò của những người Pháp về sau cần được phân biệt với một đạo quân viễn chinh chính thức của chính phủ Pháp. Với Quang Trung, chiến công chống Xiêm, chống Thanh và vai trò phá vỡ cục diện Trịnh–Nguyễn không cần phải giảm đi để thừa nhận rằng đến năm 1802, Gia Long là người thiết lập một triều đình kiểm soát lãnh thổ từ Bắc xuống Nam. Với Lê Văn Duyệt, quyền lực rất lớn ở Gia Định là điều có chứng cứ; còn cáo buộc ông chủ trương “ly khai Nam Bộ” đòi hỏi một loại chứng cứ mà trong những tài liệu tôi đã đối chiếu ở đây chưa thấy xuất hiện.

Quan điểm của tôi vì thế khá đơn giản: sử học có quyền xét lại kết luận, nhưng không có quyền xét lại chứng cứ theo ý mình. Một nhận định mới chỉ có giá trị khi nó giải thích được nhiều tư liệu hơn nhận định cũ, chứ không phải vì nó làm một nhân vật trở nên đẹp hơn hay xấu hơn.

Lịch sử có thể được đọc lại mà không cần viết lại quá khứ

Quá khứ không thay đổi. Điều thay đổi là số tài liệu chúng ta có, câu hỏi chúng ta đặt ra và khả năng đặt những nguồn khác nhau cạnh nhau để kiểm tra.

Năm 2008, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn với gần 90 tham luận. Ngay trong thông báo trên Nhân Dân, mục tiêu được mô tả là xem xét cả đóng góp lẫn hạn chế và tiến tới một đánh giá khách quan hơn về nhà Nguyễn. [1] Tổng thuật hội thảo của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia sau đó còn nhấn mạnh một điểm mà tôi thấy rất đáng chú ý: đổi mới nhận thức không có nghĩa chuyển từ cực đoan phủ nhận sang cực đoan ca ngợi; yêu cầu vẫn là khách quan, trung thực và công bằng với quá khứ. [2]

Đó cũng là cách tôi muốn đọc lịch sử.

Một bộ chính sử như Đại Nam thực lục cực kỳ quan trọng vì chứa những ghi chép gần thời sự kiện và nhiều văn bản của triều đình. Nhưng việc một nguồn là “chính sử” không khiến mọi câu trong đó tự động trở thành phán quyết cuối cùng. Ngược lại, một tác phẩm ra đời trong thế kỷ XX cũng phải được đọc trong hoàn cảnh thế kỷ XX. Nguồn gần sự kiện không đồng nghĩa nguồn không có góc nhìn; nguồn chính thống không đồng nghĩa nguồn duy nhất.

Ví dụ rõ nhất là Lịch sử nước ta của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong tác phẩm, Gia Long bị phê phán rất nặng vì dựa vào ngoại viện; những câu như “Nhờ Tây qua cứu” thực sự có trong văn bản, không có lý do gì để lờ đi. [3]

Nhưng một nguồn chính thức khác của Đảng cho biết tác phẩm được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết khoảng cuối năm 1941 tại Cao Bằng, dưới hình thức diễn ca lục bát, làm tài liệu học tập cho cán bộ và phổ biến trong nhân dân nhằm giáo dục lịch sử, khơi dậy lòng yêu nước và góp phần chuẩn bị cho cuộc vận động cách mạng. [4]

Theo tôi, đặt hai dữ kiện này cạnh nhau không làm giảm giá trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngược lại, nó giúp đọc tác phẩm đúng hơn: đây vừa là một cách diễn giải lịch sử, vừa là một văn bản giáo dục–vận động ra đời trong hoàn cảnh Việt Nam đang đấu tranh giành độc lập. Tôi có thể tôn trọng phán xét đạo đức của tác giả, đồng thời vẫn tiếp tục mở Đại Nam thực lục, hồ sơ ngoại giao Pháp, mộc bản, châu bản và nghiên cứu sau này để hỏi chi tiết hơn: Nguyễn Ánh đã làm gì, cam kết đến đâu, điều gì thực sự xảy ra và hậu quả nào có thể chứng minh được?

Đó không phải “sửa sử”. Đó chính là đọc sử.

Một nguyên tắc tôi tự đặt ra cho chuyên mục này là phân biệt ba tầng:

Sự kiện cần chứng cứ. Diễn giải cần lập luận. Phán xét về động cơ hoặc tội trạng cần cả hai — và thường cần tiêu chuẩn chứng minh cao hơn.

Không nên biến một nhận định đã quen thuộc thành điều không được phép kiểm tra. Nhưng cũng không nên lấy danh nghĩa “đánh giá lại” để biến người mình thích thành vô tội.

Nguyễn Ánh: sự kiện phải đứng trước thiện cảm hay ác cảm

Nguyễn Ánh là trường hợp rất tốt để thử nguyên tắc ấy, bởi trong cuộc đời ông có những việc khó bào chữa và cũng có những điều thường bị kể giản lược quá mức.

Chân dung Hoàng đế Gia Long
Chân dung Gia Long, tác giả khuyết danh, khoảng thế kỷ XIX. Wikimedia Commons ghi nhận tác phẩm thuộc phạm vi công cộng (Public Domain). Nguồn: Wikimedia Commons ↗

Commons mô tả bức chân dung trên là tác phẩm thế kỷ XIX, tác giả không rõ và thuộc phạm vi công cộng. [Ảnh A]

Trước hết là chuyện Xiêm. Việc Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm không phải suy đoán. Các nguồn Việt Nam và tổng thuật nghiên cứu đều xác nhận sự kiện này; lực lượng Xiêm tiến vào Gia Định rồi bị Nguyễn Huệ đánh bại trong chiến dịch Rạch Gầm – Xoài Mút đầu năm 1785. Tổng thuật hội thảo năm 2008 của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng xem việc đưa một lực lượng Xiêm rất lớn vào Gia Định là một vết đáng phê phán trong sự nghiệp Nguyễn Ánh. [2]

Theo tôi, đây là điểm không cần “giải oan”. Một người đang tranh giành quyền lực trong nội chiến đã mời quân đội một nước láng giềng vào lãnh thổ của mình. Dù động cơ là phục hồi vương quyền, rủi ro đối với dân chúng và chủ quyền là có thật. Phê phán lựa chọn ấy là hợp lý.

Nhưng từ “cầu viện Xiêm” nhảy sang khẳng định “Nguyễn Ánh cắt đất cho Xiêm” là một bước khác. Trong nhóm nguồn ưu tiên mà tôi đã kiểm tra cho bài này — Đại Nam thực lục, tổng thuật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và các tài liệu chính thức liên quan — tôi chưa tìm thấy một văn bản xác định phần lãnh thổ nào được Nguyễn Ánh cam kết chuyển chủ quyền cho Xiêm. Điều đó không chứng minh rằng một tài liệu như vậy tuyệt đối không tồn tại; nó chỉ có nghĩa là cáo buộc cụ thể này hiện chưa đủ chứng cứ trong hồ sơ tôi đã đối chiếu. Muốn nâng nó thành sự kiện, cần một quốc thư, hiệp định, chỉ dụ, biên bản ngoại giao hoặc nguồn Xiêm đương thời nêu rõ vùng đất và điều kiện chuyển nhượng.

Chuyện quân Thanh cũng cần kể đủ hai nửa. Đại Nam thực lục ghi rằng vào năm Kỷ Dậu 1789, khi nghe quân Thanh đánh Tây Sơn với danh nghĩa giúp nhà Lê, Nguyễn Ánh sai Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư cùng 50 vạn cân gạo để giúp lương cho quân Thanh. Nhưng chính đoạn ghi chép ấy tiếp tục nói đoàn thuyền gặp bão và bị đắm ngoài biển. [5]

Vì vậy, câu tôi thấy chính xác nhất là: Nguyễn Ánh đã có chủ trương và đã tổ chức tiếp tế cho quân Thanh; số lương thực theo ghi chép không đến được nơi vì đoàn thuyền gặp bão.

Vế sau không xóa vế trước. Nhưng vế trước cũng không cho phép chúng ta viết như thể quân Thanh đã nhận và sử dụng 50 vạn cân gạo ấy.

Hiệp ước Versailles là trường hợp còn rõ hơn

Ngày 28 tháng 11 năm 1787, Bá Đa Lộc, với tư cách đại diện Nguyễn Ánh, ký Hiệp ước Versailles với phía Pháp. Bản văn hiệp ước quy định Pháp sẽ gửi bốn chiến hạm cùng lực lượng gồm 1.200 bộ binh, 200 pháo binh và 250 người thuộc lực lượng phụ trợ; đổi lại phía Nguyễn dành cho Pháp những quyền về chủ quyền, sở hữu và thương mại rất rộng tại Poulo-Condor và khu vực được văn bản gọi là Hoi-Nan/Touron, kèm các đặc quyền thương mại đáng kể. [6] Một nghiên cứu chuyên khảo của Étienne Võ Đức Hạnh trên Revue d’Histoire Moderne & Contemporaine đối chiếu hồ sơ ngoại giao Pháp cũng khảo sát chi tiết quá trình hình thành và việc không thi hành hiệp ước. [7]

Tôi không thấy cần dùng từ ngữ nhẹ hơn sự thật: đó là những cam kết có nguy cơ rất nghiêm trọng đối với chủ quyền.

Nhưng một sự thật khác cũng phải được đặt cạnh nó: lực lượng cấp nhà nước mà Pháp cam kết trong hiệp ước đã không được triển khai theo nội dung ký kết. Tổng thuật hội thảo của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia phân biệt rõ việc hiệp ước không được thực thi với việc Bá Đa Lộc về sau tự vận động một số nguồn lực và người Pháp sang giúp Nguyễn Ánh. Số người này không lớn nhưng có tác dụng trong xây thành, huấn luyện, thủy quân và kỹ thuật quân sự. [2] Hồ sơ Pháp được nghiên cứu bởi Võ Đức Hạnh còn cho thấy sự do dự và phản đối kế hoạch đã xuất hiện trong bộ máy thuộc địa Pháp trước cả Cách mạng Pháp năm 1789, vì thế không nên giải thích sự bất thành chỉ bằng một nguyên nhân duy nhất.

Văn tế Bá Đa Lộc của Nguyễn Ánh năm 1799
Văn tế Bá Đa Lộc của Nguyễn Ánh, ngày 8-12-1799. Bản sao chụp một tác phẩm năm 1799; Wikimedia Commons xác định Public Domain. Nguồn: Wikimedia Commons ↗

Tư liệu năm 1799 phía trên là một dấu vết trực tiếp về mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc; Commons xác định bản gốc thuộc phạm vi công cộng. [Ảnh B]

Do đó, hai câu sau đây có thể cùng đúng:

> Nguyễn Ánh phải chịu trách nhiệm về những nhượng bộ nguy hiểm mà đại diện của mình cam kết trong Hiệp ước Versailles.

Và:

> Chính phủ Pháp không thực hiện gói viện trợ quân sự của Hiệp ước Versailles như văn bản đã quy định; hỗ trợ của một số người Pháp về sau là một vấn đề cần phân tích riêng.

Không có mâu thuẫn giữa hai câu ấy.

Tương tự, tôi không nghĩ có đủ cơ sở để viết rằng “nếu không có người Pháp, Nguyễn Ánh chắc chắn không thể thắng Tây Sơn”. Đó là một mệnh đề phản thực tế: lịch sử chỉ cho chúng ta biết điều đã xảy ra, không cung cấp một thế giới song song để thử nghiệm. Tài liệu chính thức về Quang Trung cho thấy sau năm 1788 Nguyễn Ánh đã xây dựng lại căn cứ Gia Định; sau khi Quang Trung mất năm 1792, Tây Sơn rơi vào bất ổn và chia rẽ nội bộ ngày càng nghiêm trọng. Viện trợ kỹ thuật của người Pháp là một biến số có thật, nhưng không phải biến số duy nhất. [8]

Bảng dưới đây là cách tôi tạm phân loại một số mệnh đề thường xuất hiện trong tranh luận:

Mệnh đềTình trạng chứng cứCách tôi cho rằng nên hiểu
Nguyễn Ánh cầu viện XiêmĐã được xác nhận bởi nhiều nguồn Việt Nam. [2]“Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm; quân Xiêm tiến vào Gia Định và bị Nguyễn Huệ đánh bại năm 1785.”
Nguyễn Ánh “cắt đất cho Xiêm”Chưa xác minh trong nhóm nguồn ưu tiên đã kiểm tra.chưa nên hiểu như một sự kiện nếu không có quốc thư/hiệp ước/chỉ dụ xác định đất và điều kiện chuyển nhượng.
Nguyễn Ánh tiếp tế quân ThanhCó chủ trương và đã phái đi; Đại Nam thực lục ghi 50 vạn cân gạo, nhưng đoàn thuyền gặp bão và đắm. [5]“Nguyễn Ánh tổ chức tiếp tế quân Thanh; lương thực không tới nơi theo ghi chép của Đại Nam thực lục.”
Versailles 1787 chứa nhượng bộ về chủ quyềnĐược văn bản hiệp ước xác nhận. [6]Có thể phê phán đây là cam kết nguy hiểm đối với chủ quyền.
Chính phủ Pháp đã đưa đạo quân theo đúng Versailles sang giúp Nguyễn ÁnhKhông phù hợp với nguồn đã kiểm tra. Gói viện trợ nhà nước không được thi hành; viện trợ về sau cần phân biệt. [2] [7]Phân biệt hiệp ước, viện trợ nhà nước dự kiến và người Pháp được Bá Đa Lộc vận động sau đó.
Versailles 1787 trực tiếp gây ra cuộc xâm lược năm 1858Là một mệnh đề nhân quả cần thêm chứng cứ.Có thể bàn về tiền lệ và lịch sử quan hệ Việt–Pháp; không nên gọi nó là nguyên nhân trực tiếp nếu chưa chỉ ra hồ sơ chính sách Pháp nối hai sự kiện.
Không có sĩ quan Pháp thì Nguyễn Ánh “chắc chắn” thuaKhông thể kiểm chứng bằng sử liệu, vì là phản thực tế.Nên đánh giá mức đóng góp của viện trợ thay vì tuyên bố một kết quả lịch sử giả định.
Lê Văn Duyệt chủ trương ly khai Nam BộChưa thấy được xác lập bằng nguồn sơ cấp trong hồ sơ đã kiểm tra. [9]Muốn khẳng định phải có thư, biểu, lệnh, ngoại giao hoặc kế hoạch chính trị chứng minh ý định tách khỏi vương quyền Nguyễn.

Một điểm nữa đáng lưu ý: ngay các nguồn có thẩm quyền cũng có thể cho những con số khác nhau về quy mô quân Xiêm hoặc cách mô tả một chiến dịch. Khi gặp khác biệt như vậy, tôi ưu tiên viết “một lực lượng lớn” nếu con số không phải trọng tâm, thay vì lựa chọn con số có lợi nhất cho lập luận.

Dòng thời gian sau chỉ nhằm đặt các sự kiện cạnh nhau, không hàm ý rằng sự kiện đứng trước tự động là nguyên nhân của sự kiện đứng sau. Các mốc được đối chiếu chủ yếu từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Đại Nam thực lục và văn bản Hiệp ước Versailles. [5] [6] [8] [10]

Dòng thời gian Nguyễn Ánh – Quang Trung (1762–1820)

1762 — Nguyễn Phúc Ánh ra đời

1784 — Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm

1785 — Quân Xiêm bị Nguyễn Huệ đánh bại tại Rạch Gầm – Xoài Mút

1787 — Hiệp ước Versailles được ký qua Bá Đa Lộc

1788 — Nguyễn Ánh tái lập và củng cố căn cứ Gia Định

1789 — Quang Trung đánh bại quân Thanh; Nguyễn Ánh phái 50 vạn cân gạo giúp quân Thanh; đoàn thuyền gặp bão

1792 — Quang Trung qua đời

1801 — Quân Nguyễn chiếm Phú Xuân

1802 — Nguyễn Ánh lên ngôi Gia Long; Chính quyền Tây Sơn kết thúc

1804 — Quốc hiệu Việt Nam được công nhận và công bố

1820 — Gia Long qua đời, Minh Mạng kế vị; Lê Văn Duyệt lần thứ hai lĩnh Tổng trấn Gia Định

Quang Trung và Gia Long: lịch sử không phải trò chơi tổng bằng không

Tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại Bảo tàng Quang Trung
Tượng đài Quang Trung tại Bảo tàng Quang Trung. Ảnh: Liftold, giấy phép CC BY-SA 3.0. Nguồn: Wikimedia Commons ↗

Ảnh trên được tác giả Liftold phát hành theo giấy phép Creative Commons Attribution–ShareAlike 3.0. [Ảnh C]

Tôi thấy một trong những cách làm nghèo lịch sử nhanh nhất là biến Quang Trung và Gia Long thành hai đầu của chiếc cân: thêm một gam công cho người này thì buộc phải bớt một gam công của người kia.

Không có lý do sử học nào bắt chúng ta làm thế.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận phong trào Tây Sơn, đặc biệt dưới Quang Trung, đã đánh bại quân Xiêm và quân Thanh, bảo vệ nền độc lập; đồng thời đánh đổ các tập đoàn Trịnh–Nguyễn và tạo nền tảng rất quan trọng cho việc khắc phục tình trạng chia cắt kéo dài. [8]

Đó là những thành tựu đủ lớn để không cần phóng đại thêm.

Quang Trung không cần Gia Long phải trở thành một nhân vật hoàn toàn vô năng thì chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút hay Ngọc Hồi – Đống Đa mới vĩ đại. Chiến công của ông tồn tại độc lập với đánh giá dành cho đối thủ.

Ngược lại, việc nói Nguyễn Ánh đến năm 1802 đánh bại chính quyền Tây Sơn còn lại và thiết lập một vương triều cai quản lãnh thổ từ Bắc xuống Nam cũng không xóa vai trò của Tây Sơn trong quá trình phá vỡ cục diện cát cứ trước đó. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I mô tả Gia Long là người thống nhất giang sơn sau thời kỳ phân tranh kéo dài; tổng thuật hội thảo năm 2008 có một cách diễn đạt cân bằng hơn mà tôi thấy rất đáng dùng: Tây Sơn xóa bỏ tình trạng phân chia Đàng Trong–Đàng Ngoài và đặt cơ sở cho sự khôi phục thống nhất; Nguyễn Ánh và triều Nguyễn sau đó hoàn thành việc thiết lập nhà nước thống nhất. [2] [10]

Theo tôi, đây không phải một sự thỏa hiệp để “mỗi bên vui một nửa”. Nó chỉ phản ánh việc thống nhất là một quá trình, không phải một khoảnh khắc duy nhất.

Tây Sơn phá vỡ cấu trúc Trịnh–Nguyễn cũ. Quang Trung đánh bại hai lực lượng ngoại xâm lớn và tạo ra một khả năng thống nhất mới. Nhưng Tây Sơn bản thân cũng không duy trì được một cấu trúc quyền lực ổn định lâu dài. Sau khi Quang Trung mất năm 1792, triều Cảnh Thịnh chịu những cuộc tranh chấp và thanh trừng nội bộ; trong khi đó Nguyễn Ánh đã giữ được Gia Định và sử dụng miền Nam làm căn cứ lâu dài cho cuộc chiến. Đến 1801 ông chiếm Phú Xuân, và năm sau tiến ra Bắc, kết thúc chính quyền Tây Sơn. [8]

Bởi vậy tôi không thích những công thức kiểu “người này thống nhất 90%, người kia 10%”. Lịch sử không có chiếc máy đo như thế.

Câu hỏi tốt hơn là:

Quang Trung đã thay đổi cấu trúc chính trị nào? Gia Long thừa hưởng điều gì? Tây Sơn thất bại ở đâu? Nguyễn Ánh xây dựng ưu thế lâu dài bằng nguồn lực nào? Ngoại viện có vai trò đến đâu so với hậu cần, nhân lực, thủy quân, căn cứ Gia Định và khủng hoảng nội bộ Tây Sơn?

Khi đặt câu hỏi theo cách đó, cả Quang Trung lẫn Gia Long đều trở lại làm con người lịch sử — thay vì biểu tượng phải tranh nhau một chiếc bục.

Và điều ấy, theo tôi, làm Quang Trung vĩ đại hơn chứ không nhỏ đi: giá trị của ông không còn phụ thuộc vào việc chúng ta phải phủ nhận mọi năng lực của đối thủ.

Lê Văn Duyệt: đừng dùng bản đồ chính trị hôm nay để kết án một Tổng trấn hai thế kỷ trước

Trường hợp Lê Văn Duyệt cho thấy một vấn đề khác: presentism — đọc quá khứ bằng những khái niệm chính trị hiện tại rồi mặc nhiên cho rằng người xưa cũng sống trong cùng một cấu trúc.

Tượng đồng Lê Văn Duyệt tại Lăng Ông Bà Chiểu
Tượng đồng Lê Văn Duyệt tại Lăng Ông Bà Chiểu, TP.HCM. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0. Nguồn: Wikimedia Commons ↗

Wikimedia Commons xác nhận bức ảnh do Bùi Thụy Đào Nguyên thực hiện và phát hành theo CC BY-SA 3.0. [Ảnh D]

Tư liệu Mộc bản triều Nguyễn do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV công bố tháng 9 năm 2026 cho biết Lê Văn Duyệt là khai quốc công thần, giữ vai trò quân sự cao cấp và hai lần được nhà Nguyễn giao chức Tổng trấn Gia Định. Năm 1812 ông được Gia Long điều vào làm Tổng trấn; đến năm Minh Mạng thứ nhất, 1820, ông lần thứ hai lĩnh chức này. Đáng chú ý là mộc bản ghi quyền hạn rất rộng: việc thăng giáng quan lại, những việc có lợi cần làm, có hại cần bỏ và nhiều vấn đề biên phòng được giao cho ông quyền tùy nghi xử lý. [9]

Điều ấy chứng minh Lê Văn Duyệt có quyền lực khu vực rất lớn.

Nhưng nó đồng thời cho thấy quyền lực ấy được mô tả trong tài liệu triều Nguyễn như quyền do hoàng đế trao cho một đại thần của triều đình.

Đó là hai điều khác với một tuyên bố chủ quyền độc lập.

Một Tổng trấn có thể bất đồng với triều đình. Một đại thần có thể chống lại một chính sách của hoàng đế. Một cơ chế cai quản biên viễn có thể trao quyền quân sự, nhân sự và ngoại giao thực tế rất rộng. Nhưng để đi từ những dữ kiện đó đến kết luận rằng Lê Văn Duyệt chủ trương tách Nam Bộ khỏi quốc gia, chúng ta cần một bước chứng minh nữa.

Trong các nguồn sơ cấp và nguồn chính thức tôi đã kiểm tra cho bài này, tôi chưa thấy:

một tuyên bố độc lập của Lê Văn Duyệt; một tờ biểu phủ nhận quyền của vua Nguyễn; một chỉ thị chuẩn bị thành lập chính quyền riêng; một thư ngoại giao yêu cầu quốc gia khác công nhận Gia Định là một nước độc lập; hay một kế hoạch quân sự nhằm tách vùng đất này khỏi triều đình Huế. Mộc bản mà Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV giới thiệu ngược lại mô tả ông trong hệ thống quan chức nhà Nguyễn và ghi rõ quyền hạn được vua giao.

Điều đó không đủ để tuyên bố tuyệt đối rằng chưa bao giờ tồn tại bất kỳ ý tưởng ly tâm nào. Đây là chỗ cần giữ kỷ luật về ngôn ngữ: “tôi chưa tìm thấy chứng cứ” khác với “chứng cứ không thể tồn tại”.

Nhưng trách nhiệm chứng minh thuộc về người đưa ra mệnh đề mạnh hơn.

Nếu muốn gọi Lê Văn Duyệt là một nhân vật “ly khai”, hồ sơ cần tìm phải là những thứ như: châu bản liên quan đến điều tra ông; tấu sớ và thư riêng của ông; mộc bản phần truyện Lê Văn Duyệt và Lê Văn Khôi; hồ sơ ngoại giao Xiêm–Việt; thư từ của các giáo sĩ hoặc thương nhân đương thời; và đặc biệt là tài liệu thể hiện ý định chính trị của chính Lê Văn Duyệt, chứ không chỉ hành động của những người khác sau khi ông qua đời.

Điểm này rất quan trọng. Hành động của một thuộc hạ, người thân hay phe phái sau cái chết của một nhân vật có thể là bằng chứng cho mạng lưới chính trị mà người ấy để lại; nó không tự động trở thành bằng chứng cho một kế hoạch do người đã chết chỉ đạo.

Tôi cũng không nghĩ việc ngày nay có tên đường, lăng thờ hay lễ tưởng niệm Lê Văn Duyệt có thể dùng như bằng chứng để chứng minh ông “vô tội” về mọi tranh luận lịch sử. Nhà nước hiện tại tưởng niệm một nhân vật cho chúng ta biết ký ức xã hội về nhân vật ấy đã thay đổi; nó không thay thế hồ sơ đầu thế kỷ XIX.

Ngược lại, việc một hoàng đế từng kết tội một đại thần cũng không khiến bản án đó tự động trở thành kết luận cuối cùng của sử học.

Nhân vật lịch sử không phải bị cáo đang chờ chúng ta đóng dấu “trung” hoặc “phản”. Công việc đáng làm hơn là xác định: họ đã có quyền gì, quyền đó đến từ đâu, họ dùng nó thế nào, mối quan hệ với trung ương thay đổi ra sao, và nguồn nào thực sự cho phép chúng ta suy ra ý định của họ.

Yêu nước và sự nghiêm khắc với chính lập luận của mình

Tôi nghĩ có một cám dỗ rất lớn khi viết lịch sử: chúng ta thường đòi chứng cứ cực kỳ chặt chẽ đối với nhân vật mình muốn bảo vệ, nhưng lại chấp nhận chứng cứ rất lỏng lẻo đối với nhân vật mình không thích.

Tôi muốn tránh điều đó.

Nếu phê phán Nguyễn Ánh vì cầu viện Xiêm, tôi phải ghi việc cầu viện — vì có chứng cứ.

Nếu phê phán ông vì dự định hỗ trợ quân Thanh, tôi phải ghi cả việc 50 vạn cân gạo được phái đi lẫn việc đoàn thuyền bị bão đánh đắm — vì cùng một nguồn ghi cả hai.

Nếu phê phán Hiệp ước Versailles, tôi không cần làm nhẹ những điều khoản rất nguy hiểm về chủ quyền. Nhưng tôi cũng phải nói gói quân sự cấp nhà nước của Pháp không được thực hiện như văn bản quy định.

Nếu ghi nhận Gia Long hoàn thành việc thiết lập triều đình trên toàn quốc năm 1802, tôi không cần xóa công lao của Tây Sơn trong việc đánh đổ cấu trúc Trịnh–Nguyễn và chiến thắng Xiêm, Thanh.

Nếu đánh giá Lê Văn Duyệt có vai trò lớn ở Nam Bộ, tôi không cần biến ông thành một nhân vật hoàn hảo. Nhưng nếu ai đó muốn nâng bất đồng giữa một Tổng trấn và triều đình thành một “âm mưu ly khai”, tôi muốn nhìn thấy chứng cứ tương xứng với sức nặng của lời buộc tội.

Đối với tôi, đó không phải thái độ “đứng giữa” để tránh tranh luận. Cân bằng không có nghĩa chia đôi sự thật. Có những việc chứng cứ đã rất rõ và chúng ta nên nói rõ. Có những vấn đề các nguồn còn xung đột và chúng ta phải ghi nhận xung đột. Có những mệnh đề chưa tìm được chứng cứ, và ba chữ đúng nhất lúc ấy đơn giản là: chưa xác minh.

Cũng vì vậy, tôi không nghĩ việc Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán Gia Long năm 1941 và việc các nhà sử học Việt Nam năm 2008 nghiên cứu lại nhà Nguyễn phải được hiểu như hai thái cực buộc phải loại trừ nhau. Tài liệu chính thức cho thấy Lịch sử nước ta được viết để giáo dục lòng yêu nước và phục vụ một hoàn cảnh đấu tranh cụ thể; gần bảy thập niên sau, một hội thảo do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức lại chủ động đặt vấn đề đánh giá cả đóng góp và hạn chế của vương triều Nguyễn. Cả hai đều là những phần của lịch sử nhận thức về quá khứ Việt Nam.

Tôi thấy điều đó bình thường, thậm chí là dấu hiệu lành mạnh.

Một dân tộc không yếu đi vì phát hiện rằng tiền nhân của mình phức tạp hơn sách giáo khoa vài trang. Quang Trung không bớt vĩ đại vì Gia Long có năng lực tổ chức chiến tranh. Gia Long không hết trách nhiệm với những quyết định ngoại viện chỉ vì ông thống nhất được chính quyền năm 1802. Lê Văn Duyệt không cần được thần thánh hóa để chúng ta đòi hỏi chứng cứ trước một cáo buộc ly khai.

Yêu nước, theo cách tôi hiểu, không đòi hỏi phải yêu mọi quyết định trong quá khứ. Nó đòi hỏi chúng ta đủ tôn trọng đất nước của mình để không cần nói quá về lịch sử của nó.

Một phán xét có thể đúng trong phạm vi chứng cứ của thời đại nó. Nhưng sử học không nên trao cho bất kỳ thế hệ nào quyền ban hành bản án vĩnh viễn mà các thế hệ sau không được mở hồ sơ ra xem lại.

Tôi muốn đọc lịch sử theo cách khác: giữ những gì chứng cứ xác nhận, sửa những gì chứng cứ mới buộc phải sửa, và để ngỏ những câu hỏi mà tài liệu chưa đủ sức trả lời.

Không phải để “rửa” cho ai.

Cũng không phải để “hạ” ai.

Chỉ để người đã sống trong lịch sử được trả lại đúng mức độ phức tạp của một con người.

Những khoảng trống chứng cứ còn phải để ngỏ

Bài này có một số giới hạn cần được ghi công khai thay vì lấp bằng suy đoán.

“Nguyễn Ánh cắt đất cho Xiêm”. Tôi chưa tìm được chứng cứ sơ cấp trong nhóm tài liệu Việt Nam ưu tiên đã kiểm tra để xác nhận một thỏa thuận chuyển nhượng lãnh thổ cụ thể cho Xiêm năm 1784–1785. Điều cần tìm tiếp là quốc thư giữa Nguyễn Ánh và Rama I, biên niên sử Rattanakosin liên quan chiến dịch Gia Định, hồ sơ ngoại giao Xiêm–Nguyễn và bất kỳ văn bản nào mô tả địa danh, ranh giới, điều kiện chuyển giao. Việc chưa tìm thấy không được biến thành khẳng định “chắc chắn không có”.

Toàn văn kỷ yếu hội thảo năm 2008. Bài này sử dụng thông báo của Nhân Dân và bản tổng thuật kết quả trên Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hai nguồn xác nhận quy mô, cơ quan tổ chức và một số kết luận chính, nhưng chưa thay thế việc đọc toàn bộ gần 90 tham luận. [1] [2]

Hiệp ước Versailles và quá trình phê chuẩn. Bản văn 1787 có thể đọc trực tiếp trong bộ sưu tập hiệp ước của Lucien de Reinach; nghiên cứu của Võ Đức Hạnh dẫn nhiều hồ sơ thuộc Bộ Ngoại giao Pháp. Để nâng bài thành nghiên cứu chuyên sâu hơn, nên đối chiếu bản gốc hoặc bản sao ngoại giao trong Archives du Ministère des Affaires étrangères của Pháp, đặc biệt giấy ủy quyền của Nguyễn Ánh, thư Bá Đa Lộc, trao đổi với Pondichéry và các hồ sơ về quyết định không triển khai lực lượng.

Mức độ quyết định của trợ giúp Pháp. Các nguồn chính thức cho phép nói viện trợ về kỹ thuật, thành lũy, thủy quân và vũ khí có tác dụng nhưng không cho phép định lượng nó thành một tỷ lệ chiến thắng. Muốn đi sâu hơn cần sổ quân nhu, hồ sơ đóng tàu, pháo binh, biên chế, thư từ của Chaigneau, Dayot, de Puymanel và tài liệu Nguyễn cùng thời.

Cáo buộc Lê Văn Duyệt ly khai. Chưa có tài liệu nào trong nhóm nguồn đã đọc ở đây cho phép tôi xác nhận mệnh đề đó. Hồ sơ nên kiểm tiếp gồm Đại Nam thực lục Chính biên Đệ nhị kỷ các năm cuối đời Lê Văn Duyệt và thời Lê Văn Khôi; Đại Nam chính biên liệt truyện phần Lê Văn Duyệt/Lê Văn Khôi; Châu bản Minh Mạng; Hồ sơ Mộc bản H16/23 mà Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV dẫn; quốc thư Xiêm–Việt và thư từ giáo sĩ đương thời. Nguồn Mộc bản hiện có cho thấy quyền lực rộng của Duyệt nằm trong một sự ủy nhiệm của triều đình, nhưng chỉ riêng điều đó chưa giải quyết toàn bộ lịch sử quan hệ giữa Gia Định và Minh Mạng.

Quan hệ nhân quả giữa Versailles 1787 và cuộc xâm lược 1858. Hai sự kiện thuộc cùng lịch sử dài của quan hệ Việt–Pháp, nhưng muốn gọi sự kiện thứ nhất là nguyên nhân trực tiếp của sự kiện thứ hai cần chứng minh bằng hồ sơ hoạch định chính sách Pháp ở thập niên 1850: nghị trình triều Napoléon III, Bộ Hải quân và Thuộc địa, Bộ Ngoại giao, thư từ quân sự và quyết định tổ chức chiến dịch Đà Nẵng. Không nên thay cầu nối chứng cứ bằng việc hai sự kiện cùng có yếu tố Pháp.

Đây không phải những điểm yếu cần che đi. Với tôi, câu “chưa đủ tài liệu để kết luận” cũng là một kết quả nghiên cứu.

Tư liệu & nguồn đối chiếu

[1] Báo Nhân Dân — “Nghiên cứu về nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX”, thông tin về hội thảo do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức năm 2008, gần 90 tham luận và mục tiêu đánh giá khách quan đóng góp, hạn chế của nhà Nguyễn. https://nhandan.vn/nghien-cuu-ve-nha-nguyen-trong-lich-su-viet-nam-tu-giua-the-ky-16-den-cuoi-the-ky-19-post594349.html

[2] Bảo tàng Lịch sử Quốc gia — “Xác lập nhận thức mới về chúa Nguyễn, triều Nguyễn”, tổng thuật hội thảo năm 2008; đặc biệt hữu ích về cách đánh giá công cuộc thống nhất, việc Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm, Hiệp ước Versailles và mức độ hỗ trợ của Bá Đa Lộc. https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3091/4977/xac-lap-nhan-thuc-moi-ve-chua-nguyen-trieu-nguyen.html

**[3] Hồ Chí Minh — Hồ Chí Minh tuyển tập 1919–1945, Tập 1**, bản điện tử chính thức; chứa Lịch sử nước ta và phần phê phán Gia Long. https://hochiminh.vn/book/tac-pham-cua-ho-chi-minh/ho-chi-minh-tuyen-tap/ho-chi-minh-tuyen-tap-1919-1945-tap-1-nxb-chinh-tri-quoc-gia-2002-392?categoryId=102000010

[4] Cổng Tư liệu – Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam — “Chủ Tịch Hồ Chí Minh với việc giáo dục lịch sử dân tộc”, về hoàn cảnh cuối năm 1941 và mục đích giáo dục, vận động của Lịch sử nước ta. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/chu-tich-ho-chi-minh-voi-viec-giao-duc-lich-su-dan-toc-2401

**[5] Quốc sử quán triều Nguyễn — Đại Nam thực lục, phần Thế tổ Cao Hoàng đế**, bản điện tử dùng để tra nhanh đoạn năm Kỷ Dậu 1789 về 50 vạn cân gạo và việc đoàn thuyền gặp bão. Đây là website tái bản văn bản, không phải kho lưu trữ nhà nước; khi xuất bản học thuật nên dẫn thêm bản in của Viện Sử học. https://wiki.nguoianphu.com/dainamthucluc/2024/08/31/thuc-luc-ve-the-to-cao-hoang-de-gia-long-quyen-02/

Bản tra cứu khác mà người viết có thể dùng để đối chiếu: https://vietsu.org/dai-nam-thuc-luc-tap-1-10/

**[6] Traité de Versailles ngày 28-11-1787**, văn bản trong Recueil des traités conclus par la France en Extrême-Orient của Lucien de Reinach; các Điều 2–6 đặc biệt quan trọng để kiểm chứng quân số Pháp dự kiến và các điều khoản về lãnh thổ, chủ quyền, thương mại. https://fr.wikisource.org/wiki/Trait%C3%A9_de_Versailles_%281787%29

[7] Étienne Võ Đức Hạnh — “Le traité de Versailles du 28 novembre 1787 entre Louis XVI et Nguyên-Phuoc-Anh”, Revue d’Histoire Moderne & Contemporaine, 1969, tr. 625–651; nghiên cứu học thuật dựa nhiều vào hồ sơ ngoại giao Pháp và đặc biệt hữu ích cho quá trình dẫn tới việc hiệp ước không được thi hành. https://www.persee.fr/doc/rhmc_0048-8003_1969_num_16_4_3051

DOI: https://doi.org/10.3406/rhmc.1969.3051

[8] Bảo tàng Lịch sử Quốc gia — “Vua Quang Trung: Những định mệnh lịch sử”, dùng để đối chiếu chiến công chống Xiêm, Thanh; vai trò Tây Sơn trong phá vỡ cục diện phân tranh; sự suy yếu Tây Sơn sau năm 1792 và quá trình Nguyễn Ánh giành ưu thế. https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/6119/vua-quang-trung-nhung-djinh-menh-lich-su.html

[9] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV / Mộc bản triều Nguyễn — “Lê Văn Duyệt – vị Tổng trấn tài ba”, công bố tháng 9-2026, dẫn Hồ sơ H16/23 và Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập; quan trọng để xác định chức vụ, hai nhiệm kỳ Tổng trấn và phạm vi quyền lực mà triều đình giao cho Lê Văn Duyệt. https://mocban.vn/le-van-duyet-vi-tong-tran-tai-ba/

[10] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I — “Hoàng đế Gia Long và công cuộc khai lập triều Nguyễn – 200 năm nhìn lại”, đối chiếu Châu bản và Đại Nam thực lục về Gia Long, năm 1802, quốc hiệu Việt Nam và quá trình thiết lập triều Nguyễn. https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/hoang-de-gia-long-va-cong-cuoc-khai-lap-trieu-nguyen-200-nam-nhin-lai.htm

[11] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I — “Tả quân Lê Văn Duyệt”. Nguồn này hữu ích để mở rộng đối chiếu nhưng cần thận trọng vì nội dung trên trang là lược dịch một bài đăng trên Tuần báo Đông Dương năm 1942; không nên dùng độc lập để giải quyết tranh luận về “ly khai”. https://archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/ta-quan-le-van-duyet.htm

[12] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV / Mộc bản triều Nguyễn — tài liệu về Côn Đảo và Hiệp ước Versailles, một nguồn chính thức khác để đối chiếu hoạt động của Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc và hiệp ước năm 1787. https://mocban.vn/con-dao-xua-qua-tai-lieu-luu-tru-ky-2/

[13] Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội — PGS.TS Vũ Văn Quân, “Cuộc kháng chiến chống Xiêm cuối thế kỷ XVIII…”, đối chiếu việc Nguyễn Ánh cầu cứu Xiêm và hành vi của quân Xiêm tại Nam Bộ. https://his.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/bui-minh-hanh/cuoc-khang-chien-chong-xiem-cuoi-the-ky-xviii-su-the-hien-sau-sac-y-thuc-ve-chu-quyen-cua-nguoi-viet-nam-tren-vung-dat-nam-bo-5812.html

[14] Cục Di sản Văn hóa — Di tích lịch sử địa điểm chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, nguồn chính thức để đối chiếu địa điểm và mốc trận đánh tháng 1-1785. https://dsvh.gov.vn/di-tich-lich-su-dia-diem-chien-thang-rach-gam-xoai-mut-1209

**[15] Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM — *Tả quân Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ***, công trình tập hợp nhiều nghiên cứu về quản trị, ngoại giao, ngoại thương, Công giáo, bản án đối với Lê Văn Duyệt và lịch sử khu lăng; thích hợp cho vòng nghiên cứu sâu tiếp theo hơn là dùng thay nguồn sơ cấp. https://nxbhcm.com.vn/3/ta-quan-le-van-duyet-voi-vung-dat-nam-bo-7340

Nguồn ảnh Gia Long — Public Domain. Wikimedia Commons xác định chân dung thế kỷ XIX, tác giả khuyết danh, thuộc phạm vi công cộng. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Emperor_Gia_Long.jpg

Nguồn ảnh văn tế Bá Đa Lộc năm 1799 — Public Domain. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Funeral_Oration_of_Gia_Long_to_Pigneau_de_Behaine_8_Dec_1799.jpg

Nguồn ảnh tượng Quang Trung — Liftold, CC BY-SA 3.0. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Tượng_đài_Quang_Trung_tại_Bảo_tàng_Quang_Trung.JPG

Nguồn ảnh tượng Lê Văn Duyệt — Bùi Thụy Đào Nguyên, CC BY-SA 3.0. https://commons.wikimedia.org/wiki/File:Tượng_Lê_Văn_Duyệt.jpg